Phong trào Đồng khởi Bến Tre đã ghi dấu son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngày 17/01/1960, tại ba xã điểm Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bến Tre đã đồng loạt nổi dậy, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, tấn công đồn bốt, giải tán chính quyền tay sai, giành quyền làm chủ ở thôn xã. Từ ba xã điểm Đồng khởi năm 1960, phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra toàn tỉnh Bến Tre (nay tỉnh Vĩnh Long) và các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Nam Bộ, đã tạo bước ngoặt quan trọng, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20/12/1960, mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạng miền Nam.
Phong trào Đồng khởi Bến Tre đã ghi dấu son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Ngày 17/01/1960, tại ba xã điểm Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Bến Tre đã đồng loạt nổi dậy, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, tấn công đồn bốt, giải tán chính quyền tay sai, giành quyền làm chủ ở thôn xã. Từ ba xã điểm Đồng khởi năm 1960, phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra toàn tỉnh Bến Tre (nay tỉnh Vĩnh Long) và các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Nam Bộ, đã tạo bước ngoặt quan trọng, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20/12/1960, mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạng miền Nam.
Thắng lợi của Đồng khởi Bến Tre năm 1960 thể hiện sự sáng tạo độc đáo trong phương pháp đấu tranh cách mạng bằng ba mũi giáp công: chính trị - binh vận - vũ trang, gắn liền với vai trò và dấu ấn đặc biệt của bà Nguyễn Thị Định, vị nữ tướng tài ba, người con ưu tú quê hương Đồng khởi. Dù thời gian đã lùi xa, tinh thần kiên cường, ý chí quật khởi và khát vọng độc lập, tự do của phong trào Đồng khởi Bến Tre vẫn còn nguyên giá trị, trở thành niềm tự hào và nguồn động lực cho các thế hệ.
Nhân kỷ niệm 66 năm Ngày Bến Tre Đồng khởi (17/01/1960 - 17/01/2026), Bảo tàng Vĩnh Long trân trọng giới thiệu đến công chúng một số hiện vật tiêu biểu gắn liền với phong trào Đồng khởi Bến Tre, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Súng gỗ (BTBTr 8302 - 8312): Gồm11 khẩu súng gỗ các loại, có kích thước khác nhau (kích thước dài nhất 117 cm, kích thước ngắn nhất 53 cm). Đây là loại vũ khí “đặc biệt” do Nhân dân Bến Tre sáng tạo và sử dụng trong phong trào Đồng khởi năm 1960.
Khi phong trào Đồng khởi diễn ra (17/01/1960), do thiếu vũ khí, Nhân dân Bến Tre đã mưu trí, sáng tạo nhiều phương thức đánh giặc, làm cho kẻ thù hoang mang, khiếp sợ, buộc phải đầu hàng. Trong đó, súng gỗ (súng cây) được sử dụng làm súng giả: cây gỗ được đẽo thành hình dáng súng, sơn đen, may áo mặc bằng vải hoặc ni lông nhằm đánh lừa quân địch, khiến chúng tưởng là súng thật. Bên cạnh đó, Nhân dân kết hợp đốt ống lối (cho khí đá bỏ vào ống tre đốt, tạo tiếng nổ lớn), đánh trống, mõ, rải truyền đơn và tung tin tuyên truyền như: “Bộ đội về rất đông, súng lớn, súng nhỏ đầy đủ…”, làm cho tinh thần đối phương hoang mang, dao động và ra hàng.

Mõ (BTBTr 8331 - 8379): 48 chiếc mõ các loại, đa dạng về chất liệu, kích thước và kiểu dáng như mõ tre, mõ cây, mõ sừng. Trong phong trào Đồng khởi Bến Tre (ngày 17/01/1960), dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Nhân dân Bến Tre đã đồng loạt nổi dậy đánh mõ - tạo nên “Tiếng mõ Đồng khởi”, vây đồn bót, truy bắt ác ôn, làm cho kẻ thù hoảng sợ, buộc phải ra hàng.
Những mõ được làm từ những cây gỗ, cây tre già,.. khoét rỗng một phần ruột. Riêng mõ sừng trâu được làm từ một đoạn sừng lớn, gọt sạch và phơi khô. Các loại mõ có cấu tạo gần giống nhau, có âm thanh phát ra xa hay gần, lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chất liệu và kinh nghiệm người chế tạo. Những chiếc mõ này được Bảo tàng Vĩnh Long - Chi nhánh Bến Tre sưu tầm, kiểm kê, bảo quản khoa học và phục vụ cho công tác nghiên cứu, trưng bày và giáo dục bảo tàng.
Súng ngựa trời (BTBTr 8322 - 8330): Gồm 09 hiện vật, chất liệu kim loại. Đây là loại vũ khí thô sơ do Công trường sản xuất vũ khí Bến Tre (đặt tại xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày nay xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long) chế tạo và sử dụng trong phong trào Đồng khởi những năm 1960.
Súng ngựa trời được chế tạo vào tháng 01/1960 do ông Ba Thành và ông Út Tam phụ trách công trường sản xuất. Súng có cấu tạo đơn giản, gồm nòng bằng kim loại (thường là ống nước), có đường kính 35-70 mm, dài 40-80 cm, đáy nòng bịt kín bằng cách hàn hoặc đập dẹt, đặt trên hai chân chống. Gần đáy nòng khoan một lỗ để lắp cơ cấu cò hay bộ phận phát hoả đơn giản. Trong nòng nhồi thuốc nổ và các mảnh gang, sắt vụn, thuỷ tinh,…nhằm tăng hiệu quả tác chiến, gây sát thương, bị nhiễm trùng dẫn đến tử vong.
Quá trình thử nghiệm súng được tiến hành nhiều lần tại mương vườn nhà ông Võ Văn Trình, xã Bình Khánh (nay là xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long). Lần thử đầu tiên với khẩu súng nhỏ cho thấy tầm sát thương khoảng 2 mét. Những lần thử tiếp theo với kích thước nòng và lượng thuốc nổ tăng dần và nâng tầm sát thương lên 7 mét, rồi 15 mét; có mảnh kim loại văng xa tới khoảng 25 mét, cho cho thấy hiệu quả tác chiến và khả năng sát thương ngày càng được cải thiện.
Súng ngựa trời lần đầu tiên được sử dụng trong trận chống càn tại ấp An Thạnh, An Hóa, xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày (nay là xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 03/02/1960. Trong trận này, Đại đội vũ trang 264 (Bến Tre) đã sử dụng súng ngựa trời kết hợp với mã tấu và các loại vũ khí thô sơ khác để chặn đánh lực lượng thủy quân lục chiến, tiêu diệt và làm bị thương nhiều tên, gây hoang mang, khiếp sợ cho đối phương.
Súng thường được sơn màu xanh để dễ ngụy trang với cây cỏ, khó bị phát hiện. Khi sử dụng, súng ngựa trời thường được kết hợp với chông, lựu đạn và mìn. Loại vũ khí này được sử dụng chủ yếu tại ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay là xã Đồng Khởi, tỉnh Vĩnh Long) và trong nhiều trận chống càn khác trong phong trào Đồng khởi năm 1960. Sau đó, súng ngựa trời còn được sử dụng phổ biến ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Nam bộ vào đầu những năm 1960 của thế kỷ XX.
Súng ngựa trời đang trưng bày tại Di tích Quốc gia nơi ở và làm việc của Đại tá Phạm Ngọc Thảo (Bảo tàng Bến Tre cũ).
Sử dụng “Súng ngựa trời” đánh giặc.
Những hiện vật về phong trào Đồng khởi Bến Tre được sưu tầm, lưu giữ tại Bảo tàng Vĩnh Long - Chi nhánh Bến Tre không chỉ là những chứng tích lịch sử quý giá, mà còn là biểu tượng sinh động của tinh thần quật khởi, ý chí kiên cường và trí tuệ sáng tạo của quân và dân Bến Tre nói riêng, Nam bộ nói chung trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Qua mỗi hiện vật, trang sử hào hùng của quê hương như được tái hiện, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và hun đúc tinh thần yêu quê hương, đất nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau.